Cái chết bí ẩn của một chỉ huy CIA

Sáng ngày 24/9/1978, Hải quân biên phòng bang Maryland (Mỹ) phát hiện một chiếc thuyền buồm nhỏ có tên Brillig trôi dạt gần đảo Solomons trong vịnh Chesapeake. Kiểm tra chiếc thuyền, họ phát hiện một chiếc cặp da chứa nhiều tài liệu liên quan đến hoạt động của Cơ quan Tình báo trung ương Mỹ (CIA).


Bài trước Henry Kissinger - "Chuyên gia giật dây"

Điểm đặc biệt là chiếc Brillig còn được lắp đặt nhiều phương tiện thông tin liên lạc hiện đại chuyên dụng cho những cuộc trao đổi thông tin bí mật. Lập tức, cả FBI lẫn CIA vào cuộc điều tra và đã xác định được chủ nhân của chiếc thuyền lạ, đó là John Paisley, 55 tuổi, cựu chỉ huy bộ phận an ninh nội bộ của CIA, đang làm cố vấn cho Công ty kiểm toán Coopers & Lybrand có trụ sở đặt tại thủ đô Washington.

Bà Maryann Paisley, vợ của Paisley, khai với các nhân viên điều tra là chồng mình báo sẽ đi cắm trại cuối tuần trên đảo Solomons và rời cảng St.Inigoes trên chiếc Brillig của gia đình vào tối ngày 23/9/1978.

Đến ngày 1/10/1978, một chiếc tàu đánh cá phát hiện một xác người trôi dạt gần cửa sông Patuxent đổ ra vịnh Chesapeake liền báo tin cho cảnh sát. Giám định pháp y xác định đó chính là xác của John Paisley.

Tuy nhiên, việc xác định nguyên nhân cái chết của nạn nhân lại gây nhiều tranh cãi khi giám định pháp y cho biết nạn nhân đã chết do bị một viên đạn bắn vào đầu, đích xác là ở tai trái.

Trong khi cả FBI và CIA đều khẳng định là nạn nhân đã tự tử thì Viện Pháp y bang Maryland lại cho rằng nạn nhân đã bị bắn chết rồi ngụy tạo thành một vụ tự tử.

John Arthur Paisley sinh ngày 25/8/1923 tại thành phố Sand Springs, bang Oklahoma. Trong Chiến tranh thế giới lần thứ hai, Paisley làm nhân viên vô tuyến điện trên một tàu hàng quân sự chuyên vận chuyển hàng hóa từ Mỹ đến Liên Xô và Cuba. Vì vậy Paisley nói thông thạo cả tiếng Nga và tiếng Tây Ban Nha.

Khi chiến tranh chấm dứt, Paisley có thời gian phục vụ trong Lực lượng Cảnh sát bang Arizona trước khi làm việc trong phái bộ hòa bình Bunche-Bernadotte của Liên Hiệp Quốc tại Trung Đông. Đây là dịp để Paisley đặt chân đến Iraq, Syrie, Liban và Jordanie.

Sau khi trở về lại Mỹ, Paisley theo học ngành Quan hệ quốc tế của Đại học Chicago. Paisley chính thức gia nhập CIA vào tháng 12/1953, nhưng theo Leonard Masters, một bạn thân của Paisley, cũng là điệp viên CIA, thì Paisley đã được CIA tuyển dụng ngay trong thời kỳ còn học đại học.

Do có kiến thức chuyên môn cao về vô tuyến điện tử nên Paisley được phân công làm việc tại bộ phận điện tử của CIA, chuyên nghiên cứu về phát triển công nghệ điện tử của Liên Xô.

Năm 1955, Paisley được CIA biệt phái đến CHLB Đức để phối hợp với Cơ quan Tình báo thông tin quốc gia Mỹ (NSA) giải mãphân tích các thông tin tình báo thu thập được từ các thiết bị nghe trộm mà CIA bí mật cài đặt trong một đường hầm đào bên dưới bức tường Berlin.

Năm 1958, sau khi hoàn thành nhiệm vụ, Paisley quay về lại Mỹ và được bổ nhiệm vào chức vụ chỉ huy bộ phận điện tử của CIA. Trên cương vị này, Paisley là người tích cực đề xướng cho việc triển khai chương trình do thám trên không bằng máy bay U-2 kết hợp với vệ tinh tình báo.

Năm 1963, khi xảy ra vụ ám sát Tổng thống Mỹ John Kennedy, CIA quyết định thành lập một ban đặc biệt có tên gọi Đơn vị A có nhiệm vụ điều tra là liệu có sự dính dáng của các cơ quan tình báo nước ngoài vào vụ ám sát này hay không? Paisley được phân công làm điều phối viên của Đơn vị A với Ủy ban Điều tra đặc biệt của chính phủ.

Cho dù kết quả điều tra của Đơn vị A không được công bố vì là bí mật quốc gia, nhưng trong một cuốn sách có nhan đề "Sự thật về những thảm kịch đằng sau 25 năm hoạt động của tình báo phương Tây" của ba tác giả William Corson, Susan Trento và Joseph Trento, được phát hành vào năm 1999, thì Đơn vị A đã phát hiện ra nhiều chuyện động trời liên quan đến vụ ám sát Tổng thống Kennedy.

Trong đó, có trường hợp cả CIA và FBI dựng đứng việc Liên Xô có liên quan đến vụ ám sát khi biết rằng, Lee Harvey Oswald là thủ phạm, có thời gian làm việc tại Liên Xô, nhằm che đậy một sự thật là đã hình thành một âm mưu sát hại Tổng thống Kennedy bởi một số nhân vật có quan hệ mật thiết với Phó tổng thống Lyndon Johnson.

Đơn vị A còn phát hiện cả việc Dick Russell, người đứng đầu bộ phận nghiên cứu chiến lược của CIA và William Harvey, người phụ trách bộ phận hành động nước ngoài của CIA, cũng có liên quan đến vụ ám sát Tổng thống Kennedy.

Là điều phối viên của Đơn vị A, Paisley nắm bắt được các thông tin quan trọng này và do áp lực buộc phải xếp hồ sơ điều tra và không được tiết lộ nên Paisley đành tuân thủ lệnh cấp trên nhưng đã bí mật cho sao chụp toàn bộ tài liệu.

Năm 1971, Paisley được bổ nhiệm vào chức vụ chỉ huy bộ phận an ninh nội bộ của CIA và khi xảy ra vụ Watergate, Paisley được lệnh đình chỉ điều tra về sự dính dáng của một số điệp viên CIA trong vụ Watergate khi làm "biến mất" hồ sơ điệp viên của Gordon Liddy và E. Howard Hunt, hai nhân viên CIA có dính líu đến vụ Watergate. Đã thành thói quen, Paisley cũng cho sao chụp hồ sơ về vụ việc này để giữ riêng cho mình.

Tháng 5/1974, khi đang ở đỉnh cao của sự nghiệp tình báo, Paisley đột ngột xin nghỉ việclý do sức khỏe.

Trở về cuộc sống đời thường, Paisley được mời làm cố vấn cho Công ty Kiểm toán Coopers & Lybrand nhưng vẫn giữ mối liên hệ bí mật với William Colby, cả khi ông này thôi làm Giám đốc CIA vào năm 1976.

Theo các cuộc điều tra độc lập được thực hiện bởi luật sư của gia đình Paisley, của báo The New York Times, báo Baltimore Sun và nhất là các tác giả của cuốn sách "Sự thật về những thảm kịch đằng sau 25 năm hoạt động của tình báo phương Tây", thì Paisley đã bị giết chết rồi ngụy tạo thành một vụ tự tử.

Do nắm bắt được những bí mật của vụ ám sát Tổng thống Kennedy, sự dính dáng của CIA đối với vụ Watergate, nên sau khi thôi làm việc cho CIA, Paisley có ý định chuyển giao các bí mật này cho báo chí. Ông đã chọn báo The New York Times để chuyển giao các tài liệu này. Thế nhưng ý đồ của Paisley bị phát hiện và CIA tổ chức giám sát Paisley chặt chẽ.

Vào tối ngày 23/9/1978, Paisley bí mật dồn tất cả tài liệu vào một chiếc cặp da mang lên chiếc thuyền du lịch một buồm của mình làm như đi biển vào ngày cuối tuần, vốn là thói quen cố hữu của Paisley từ ngày thôi làm việc cho CIA, đến nơi hẹn là một địa điểm trên đảo Solomons để chuyển giao tài liệu cho một đại diện của báo The New York Times.

Tuy nhiên, các đặc vụ của CIA đã ra tay trước bằng cách đột nhập lên chiếc Brillig, bắt đưa Paisley sang một chiếc thuyền khác, dùng súng bắn chết ông rồi thả xác xuống cửa sông Patuxent để ngụy tạo thành một vụ tự tử. Là một người thuận tay phải, Paisley không thể nào dùng súng để bắn vào vùng đầu phía tai trái của mình được.

Từ nhận định của các cuộc điều tra độc lập và theo kiến nghị của gia đình, nguyên nhân cái chết của Paisley đã được Bộ Tư pháp Mỹ chuyển đổi từ tự tử sang bị chết nhưng không xác định được nguyên nhân. Đây là lý do tại sao cho đến nay hồ sơ về cái chết bí ẩn của Paisley vẫn chưa được khép lại.

Chỉ biết rằng 18 năm sau, vào tháng 4/1996, đến lượt một chỉ huy khác của CIA là William Colby cũng chết tương tự như trường hợp cái chết của Paisley

Văn Hoà (theo Spy Mae)


Bài tiếp Công ty Aegis – "con mắt" tình báo tư nhân tại Iraq