Chuyện về vị 'Lưỡng quốc Thám hoa' duy nhất trong lịch sử Việt Nam

Tích xưa, sử cũ thời kỳ phong kiến thường nhắc đến danh xưng “Lưỡng quốc Trạng nguyên” để nói đến những vị quan Trạng đi sứ phương Bắc, được Vua Trung Hoa kính phục, phong làm Trạng nguyên hai nước.


Bài trước Lê Thánh Tông - vị Hoàng đế mở cõi

Ở nước ta đã có nhiều “Lưỡng quốc Trạng nguyên” như: Tống Trân (?), Mạc Đĩnh Chi, Nguyễn Đăng Đạo....song ít người biết được có một vị Thám hoa khí chất khác vời, được Vua Càn Long triều Thanh phong làm “ Lưỡng quốc Thám hoa”. Phan Kính (1715 - 1761) chính là vị “Lưỡng quốc Thám hoa” duy nhất trong lịch sử dân tộc ta.

Đỗ Thám hoa, nhưng được coi như đỗ Trạng

Phan Kính sinh năm Ất Mùi (1715) tại quê nghèo hiếu học Vĩnh Gia, xã Lai Thạch, huyện La Sơn, trấn Nghệ An (nay là xã Song Lộc huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh). Năm 1743, trong kỳ thi Đình do đích thân Vua Lê Cảnh Hưng ra đề, Ông đỗ “Đệ nhất giáp tiến sĩ cập đệ đệ danh” – tức là đỗ đầu khoa thi với danh vị Thám hoa. Nguyên do vì Vua Lê đã lệnh không lấy danh vị Trạng nguyên, Bảng nhãn, nên Phan Kính chỉ đỗ Thám hoa mà cũng được coi như là người đứng đầu kỳ thi.

Từ nhỏ, Thám hoa Phan Kính nổi tiếng là người học giỏi, nức tiếng thần đồng một vùng xứ Nghệ. Năm 3 – 4 tuổi Phan Kính đã thuộc rất nhiều ca dao, tục ngữ. Lên 6 tuổi đã thuộc làu quyển “Thiên Gia Thi” không sai một chữ. Ông đã từng đi thi sát hạch do xã Lai Thạch tổ chức năm Nhâm Dần (1722) khi chưa đủ tuổi đăng ký và được vị chủ khảo là Giám sinh Quốc Tử Giám Nguyễn Quỳnh đánh giá rất cao.

Nhận thấy Phan Kính thông minh, sáng dạ, ham học nên cha mẹ đã gửi Ông cho những người thầy nổi tiếng kèm cặp như Bảng nhãn Hà Tông Huân, Đan Lĩnh hầu họ Vũ. Bằng tài năng của mình Ông đứng đầu hai kỳ trình văn trong tổng số 500 thí sinh dự thi mỗi kỳ ở Quốc Tử Giám, được bạn bè nể phục tôn làm thủ lĩnh “ Nghệ An ngũ tuyệt”.

Chúa Trịnh nhận thấy Ông là tài năng hiếm có của đất nước, nhân tài tìm kiếm là đây, đã “ đặc cách”: “Anh này không thi cũng đỗ”. Năm đó, đích thân Vua Lê Cảnh Hưng trực tiếp ra đề chế sách gồm 10 mục, 100 câu hỏi. Ngay tại sân rồng, sau khi đọc quyển thi của Phan Kính, Vua đã ngự bút son phê “ Cho đỗ đệ nhất giáp tiến sĩ cập đệ đệ tam danh” (Thám hoa)

Người bảo vệ cương vực lãnh thổ đất nước

Từ năm 1744, Thám hoa Phan Kính bước vào chốn quan lộ và trải qua nhiều chức vị khác nhau như: Giám sinh Quốc Tử Giám, Đốc đồng trấn Sơn Tây, Đốc đồng xứ Thanh Hóa, Thư đốc thị Nghệ An...đây đều là những vùng đất quan trọng của đất nước, là “phên dậu” của quốc gia. Là người đứng đầu ở các địa phương vùng biên giới, Ông luôn gìn giữ từng “tấc đất, tấc vàng” của Tổ quốc, không cho kẻ thù xâm hại dù là nhỏ nhất.

Trong những năm 1758 – 1761, trên cương vị Đốc đồng xứ Tuyên Quang kiêm tham mưu nhung vụ đạo Hưng Hóa, nhiều lần Ông đã thương thuyết với nhà Thanh, cho dựng lại cột mốc biên giới, đánh dấu chủ quyền lãnh thổ trên đất liền. Khâm phục tài năng, đức độ của Phan Kính, Vua Càn Long đã tặng cho Ông “Lưỡng quốc đình nguyên Thám hoa”, ban tặng áo cẩm bào vương triều có thêu chữ “ Thiên triều đặc tứ, Bắc Đẩu dị nam, nhất nhân di nhĩ” (Thiên triều đặc cách, phía nam Bắc Đẩu, chỉ có một người thôi).

Năm 1761, giữa lúc tài năng của Ông đã nở rộ nhất thì cái chết đột ngột đã để lại sự tiếc thương vô vàn của nhân dân. Về cái chết của Thám hoa Phan Kính vẫn còn là một điều bí ẩn của lịch sử. Để ghi nhớ công lao, Vua Lê Hiển Tông và Minh đô Vương Trịnh Doanh đã tự tay đề bức trướng: “Lưỡng đồ văn hữu vũ, vạn lý hiểm vy di” (Hai đường kiêm văn võ, vạn dặm hiểm lại bình).

Để kết thúc cho bài viết này, tôi xin mượn lại lời tổng kết của Gs, Ts khoa học Nguyễn Duy Quý nhân dịp Bộ Văn hóa thông tin đã ra quyết định công nhận Di tích lịch sử văn hóa đền thờ Phan Kính tại xã Song Lộc năm 1992: “ Phan Kính là người học rộng tài cao. Ông văn, võ, chính trị, kinh tế, ngoại giao toàn tài, một tri thức tài hoa, một quan thanh liêm mẫn cán luôn hoàn thành trách nhiệm một cách xuất sắc. Cuộc đờisự nghiệp của Phan Kính là tấm gương sáng cho các thế hệ mai sau học tập về tài học, chí học và đức tính quan liêm chính công bình” thay cho lời kết.

LƯƠNG ĐỨC HIỂN


Bài tiếp Một góc nhìn khác về Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm