Đội quân bí mật của NATO

Ngay sau khi Chiến tranh thế giới thứ II kết thúc, CIA và Cơ quan Tình báo Anh MI-6 đã tổ chức, cung cấp tài chính, trang bị vũ khí và huấn luyện cho các đội quân bí mật của các nước NATO với ý đồ chống lại các lực lượng vũ trang Liên Xô và hoạt động của những người Cộng sản, tiến hành khủng bố ở các nước khác nhau.


Bài trước Số phận của một điệp viên tố cáo CIA

Công trình nghiên cứu của GS Daniele Ganser chủ yếu tập trung vạch rõ bản chất cực kỳ nguy hiểm của chiến lược gây bất ổn định và những cuộc khủng bố theo kịch bản “gắp lửa bỏ tay người” (False flag terrorism - Tổ chức khủng bố rồi đổ vấy cho người khác). Cuốn sách chứng minh rằng suốt nửa thế kỷ chiến tranh lạnh, Lầu Năm Góc cùng với cơ quan tình báo các nước NATO đã sử dụng đội quân bí mật, tuyển chọn các phần tử tay sai trong các nhóm dân tộc chủ nghĩa để tổ chức khủng bố, rồi đổ vấy cho những người Cộng sản, hoặc các đảng phái cánh tả khác.

Vụ khủng bố ở Iran năm 1953, ban đầu người ta cho rằng đảng Cộng sản nước này thực hiện. Cuộc điều tra sau đó đã chứng minh rằng chính CIA và MI-6 là tác giả đích thực của những hoạt động ghê tởm đó. Chúng đã sử dụng những tên điệp viên nội gián tổ chức lật đổ Chính phủ của Thủ tướng Mohammed Mossadegh.

Đây là một điển hình khủng bố nhằm kiểm soát nguồn dầu lửa. Còn những vụ khủng bố ở Ai Cập năm 1954, lúc đầu quy kết những người Hồi giáo thực hiện, nhưng hóa ra đấy là tội ác của các nhân viên tình báo Israel Mossad. Chúng tổ chức khủng bố làm cho tình hình Ai Cập lúc đó hết sức căng thẳng với mục tiêu níu kéo quân đội Anh ở lại nước này để bảo vệ cho Israel.

Như vậy, lịch sử hơn nửa thế kỷ trước đã chỉ rõ Mỹ, Anh và Israel đã thi hành chiến lược gây bất ổn định và tiến hành những vụ khủng bố theo kiểu “gắp lửa bỏ tay người”. Các cuộc điều tra tiếp theo cho thấy còn có những nước khác cũng dùng những thủ đoạn này.

Theo GS Daniele Ganser, các đội quân bí mật của NATO chính là trung tâm mạng lưới ngầm gắn bó trực tiếp và rất mật thiết với chủ nghĩa khủng bố. Ủy ban Kế hoạch bí mật (Clandestine Planning Committee) và Ủy ban NATO bí mật (Allied Clandistine Committee) tạo thành nền tảng bí mật của Liên minh Đại Tây Dương. Chính các phần tử thuộc các ủy ban bí mật đó đã tổ chức và chỉ đạo thực hiện chiến lược gây bất ổn định. Những tên khủng bố thuộc các nhóm cực hữu khi bị bắt đã khai ra rằng trong cuộc chiến tranh không tuyên chiến này, chúng đã nhận được sự ủng hộ từ các cơ quan đặc biệt và NATO.

Vào những năm 50-70 của thế kỷ trước, phong trào Cộng sản ở châu Âu lên rất cao, nhất là ở các nước Pháp, Italia, Hy Lạp... Bởi vậy, Mỹ rất lo ngại Cộng sản sẽ lên nắm chính quyền tại các nước đó. Theo GS Daniele Ganser, vào năm 1970, cơ quan đặc biệt của Italia đã sử dụng đội quân bí mật gây ra một loạt vụ khủng bố, rồi đổ vấy cho những người Cộng sản nhằm làm hoen ố hình ảnh của họ trong con mắt cử tri trước cuộc bầu cử Quốc hội. Đảng Cộng sản Italia đã nhiều lần yêu cầu Chính phủ giải thích về đội quân bí mật mang mật danh “Gladio”, nhưng đều bị từ chối với lý do “Đây là bí mật quốc gia”.

Mãi tới năm 1990, Thủ tướng Italia khi đó, ông Giulio Andreotti mới thừa nhận có đội quân bí mật “Gladio” đang hoạt động tại nước ông và nó có mối quan hệ trực tiếp với NATO, CIA, MI-6. Cũng chính dưới thời ông làm Thủ tướng, Chánh án Felice Casson mới có thể vạch rõ tác giả đích thực của vụ khủng bố năm 1972 ở Peteano là Vincenzo Vinciguerra, một thành viên trong tổ chức phát xít mới Ordine Nuovo. Tên V.Vinciguerra đã phải cúi đầu nhận tội. Hắn cũng đã tiết lộ nhiều điều về đội quân bí mật “Gladio”. Đội quân này chịu sự kiểm soát của NATO và nó có những chi đội ở hầu hết các nước châu Âu.

Theo lời V.Vinciguerra thì trong thời kỳ chiến tranh lạnh, những vụ khủng bố bí mật đã giết hại nhiều phụ nữtrẻ em. Vụ án Peteano không chỉ làm rung động Italia, mà chính từ cuộc điều tra của Casson dần dà người ta biết về các đội quân bí mật của NATO ở các nước châu Âu như: Pháp, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Áo, Thụy Sĩ, Bỉ, Hà Lan, Na Uy, Đan Mạch, Hy Lạp, Thổ Nhĩ Kỳ, Luxemburg, Đức, Thụy Điển, Phần Lan... Lúc đầu, người ta cũng tưởng rằng đó chỉ là một đội quân du kích. Càng đi sâu nghiên cứu, mới càng biết rõ thực chất đây là những đội quân bí mật đã tham gia chiến lược gây bất ổn định, trong đó có những vụ khủng bố.

Theo GS Daniele Ganser, không phải tất cả các đội quân bí mật NATO đều tham gia khủng bố. Những đội quân NATO được biết đến dưới mật danh “Stay behind” (ở lại hậu phương của đối phương) ban đầu được thành lập với ý tưởng tạo thành một phong trào du kích nhằm chống lại quân đội Liên Xô nếu họ tới xâm chiếm. Trên thực tế sau chiến tranh, Liên Xô không hề xâm lược nước nào, như vậy lý do để tồn tại của nó đã không còn nữa. Từ đó các đạo quân “Stay behind” cũng được sử dụng vào chiến lược gây bất ổn định.

Tháng 11/1990, nhiều nghị sĩ trong Nghị viện châu Âu tuyên bố không thể chịu đựng thêm nữa với sự tồn tại của các đội quân bí mật, tiếp tục im lặng trước những vụ khủng bố xảy rakhắp nơikhông có sự điều tra làm rõtrừng trị. Khi ấy, Nghị viện châu Âu đã gửi một văn kiện phản đối tới Tổng thống Mỹ, lúc bấy giờ là Bush-cha. Thế nhưng đã không có bất cứ sự phản hồi nào từ phía Mỹ. Chỉ 3 nước là Italia, Thụy Sĩ và Bỉ đã có những cuộc điều tra xã hội; người ta buộc phải công bố những báo cáo về các đội quân bí mật và tình hình trật tự, trị an được cải thiện đôi chút. Nhưng rồi đâu lại hoàn đấy.

Đến nay, ở nhiều nước châu Âu vẫn tồn tại những đội quân bí mật. Nhưng không nước nào cho công bố báo cáo chính thức về hoạt động của chúng. Chỉ nước nào Quốc hội đòi điều tra nghiêm túc mới có thể thu được những thông tingiá trị. Chẳng hạn như ở Italia đó là đội quân "Gladio"... Còn ở Thụy Sĩ đội quân bí mật P-26 từng tồn tại trong một thời gian dài, và đã gây ra các vụ khủng bố ở nhiều nơi. Bởi thế tháng 11/1990, Quốc hội nước này đã buộc nó phải giải thể.

Các nước bỏ ngoài tai lời cảnh báo của Nghị viện châu Âu, chẳng hạn như Pháp. Tổng thống François Mitterrand cho rằng đội quân bí mật là chuyện của quá khứ. Thủ tướng Italia Giulio Andreotti đã phản bác lời khẳng định thiếu trung thực này, khi ông tuyên bố rằng: “Người Pháp đã tham dự cuộc họp bí mật mùa xuân năm 1990, như vậy không thể nói rằng đội quân bí mật đã không còn tồn tại”.

Mặc dù F.Mitterrand rất tức giận trước tuyên bố của G.Andreotti, nhưng ông ta cũng đã phải đính chính về ý kiến của mình. Còn Giám đốc Cơ quan Tình báo Pháp khi đó, Đô đốc Pierre Lacoste thì thú nhận ở Pháp vẫn tồn tại những đội quân bí mật và chúng đã can dự vào nhiều vụ khủng bố.

Cho đến nay, rất lâu sau khi hệ thống XHCN không còn tồn tại và Liên Xô đã tan rã, song theo GS Daniele Ganser vẫn không có cơ sở nào để nói rằng đội quân bí mật NATO đã ngừng tồn tại. Ở nước này hay nước khác những đội quân như "Gladio" hay P-26 đã được giải thể, nhưng ngay lập tức các đơn vị mới tương tự lại được thành lập, thậm chí còn ở quy mô lớn hơn, chặt chẽ và được trang bị tối tân hơn. Nếu trước kia CIA, MI-6, cũng như cơ quan tình báo các nước NATO thường đem Cộng sản ra hù dọa, thì ngày nay họ lại dọa dẫm bằng chủ nghĩa khủng bố Hồi giáo. Chuẩn bị đánh Iraq, Mỹ và Anh la lối lên rằng Saddam Husein có vũ khí sinh học, có mối quan hệ khăng khít với mạng lưới khủng bố Al-Qaeda. Họ làm như thể người Hồi giáo muốn gieo rắc khủng bố ở khắp nơi và vì vậy cần phải tiến hành chiến tranh chống lại chủ nghĩa khủng bố. Nhưng giờ đây cả thế giới đã hiểu rõ nguyên nhân chủ yếu của chiến tranh Iraq là giành quyền kiểm soát dầu lửa. Trữ lượng dầu lửa khổng lồ tập trung ở các nước Hồi giáo.

Theo dự báo, đến năm 2020, khối lượng khai thác dầu lửa toàn cầu sẽ đạt mức cao nhất. Ai kiểm soát được dầu lửa ở Iraq sẽ chiếm ưu thế lớn trên thị trường “vàng đen” - đây vừa là năng lượng, vừa là nguyên liệu sản xuất vô cùng quan trọng. Bởi vậy cũng không thể không nói tới vùng biển Caspia, nơi cũng có trữ lượng dầu lửa rất lớn, Mỹ và các nước phương Tây muốn xây dựng đường ống dẫn dầu từ đó ra Ấn Độ Dương. Đường ống này rõ ràng không thể đi qua Iran ở phía nam, cũng không thể qua nước Nga ở phía bắc, chỉ còn có thể chạy dọc phía đông qua Turkmenistan và Afghanistan. Bởi thế, họ đã tìm mọi thủ đoạn kiểm soát các nước này và đó cũng là lý do tại sao các nước Hồi giáo ở khu vực này bị coi là “những tên khủng bố, cần phải trừng trị!”.

Hiện đội quân NATO được sử dụng như đạo quân tiến công. (Cần nhớ rằng khi mới thành lập nó chỉ có chức năng phòng thủ). Quân đội NATO đang tham gia chiến tranh ở Afghanistan và Iraq, như họ nói, là để tiêu diệt lực lượng khủng bố. Nhưng thực chất họ đang tiến hành cuộc chiến khai thác dầu lửa và gas của các nước Hồi giáo. Cuộc xung đột giữa Israel và Palestine cũng đang diễn ra quyết liệt. Thoạt nhìn tưởng như ở đây chẳng liên quan gì tới dầu lửa và gas. Nhưng đi sâu phân tích, ngày càng lộ rõ bản chất của vấn đề là Mỹ vẫn tìm mọi cách kiểm soát khu vực có trữ lượng dầu lửa lớn nhất thế giới này

Ngô Gia Sơn (Tổng hợp) - Theo An ninh thế giới


Bài tiếp Kế hoạch của quân đồng minh trong chiến dịch đánh chiếm Sicilia năm 1943